• youtube
  • facebook

Tuyên Quang: Độc đáo nghi lễ cưới hỏi của người Pà Thẻn

Pà Thẻn là một trong ba tộc người có tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Mông – Dao ở Việt Nam. Đây là tộc người có số dân ít, cư trú tập trung ở một số xã của huyện Bắc Quang, Quang Bình (Hà Giang) và huyện Chiêm Hóa (Tuyên Quang). Ở Tuyên Quang, dân tộc Pà Thẻn cư trú chủ yếu ở thôn Thượng Minh, xã Hồng Quang và thôn Khuổi Hóp, xã Linh Phú, huyện Chiêm Hóa.

Hình ảnh

phỏng đám cưới tại Lễ hội văn hóa truyền thống của dân tộc Pà Thẻn.

Người Pà Thẻn ở Chiêm Hóa tự nhận là Pà Hưng, đó là tộc danh tự gọi của họ. Trong Quá sơn bảng văn của người Dao, người Pà Thẻn được nhắc đến với tên gọi Bát tiên tộc (người tám họ). Trong thực tiễn, người Dao láng giềng gọi người Pà Thẻn là Pà Hung Miền (người Pà Hưng), hay Pà Hông (người Pà Hông). Người Tày ở Chiêm Hóa gọi người Pà Thẻn là Mèo Lài (Mèo Vằn – Mông Hoa). Theo Quyết định số 121/TCTK ngày 02/3/1979 của Tổng cục Thống kê công bố kết quả tổng điều tra dân số toàn miền Bắc năm 1974, tộc danh Pà Thẻn lần đầu tiên xuất hiện trong Danh mục các dân tộc Việt Nam, đây cũng là tộc danh chính thức được Nhà nước Việt Nam công nhận đối với cộng đồng người Pà Thẻn ở Việt Nam nói chung và ở Tuyên Quang nói riêng.

Quá trình sinh sống ở Tuyên Quang, văn hóa của cộng động người Pà Thẻn dần dần đã mang những sắc thái riêng biệt. Họ đã tạo dựng được những giá trị văn hóa riêng, phong phú, đặc sắc, trong đó có nghi lễ cưới xin (ý lình), lễ hội nhảy lửa (pò dính)…

Hôn nhân của dân tộc Pà Thẻn một vợ một chồng, coi trọng sự bền vững, thủy chung. Xa xưa, người Pà Thẻn đã có tục lệ nam nữ không được kết hôn với người dân tộc khác. Các thế hệ chung sống trong cùng một nhà, vợ chồng mới cưới thường sống chung với ông bà, bố mẹ và anh em. Tục lệ này được duy trì từ trong truyền thống đến hiện tại, tạo nên nét văn hóa đặc sắc, giúp cho những người trong gia đình gắn bó, hiểu và có sự chia sẻ, kính trọng, giúp đỡ nhau, tạo nên mối quan hệ gia đình bền vững, hòa thuận.

Trong truyền thống, nam nữ dân tộc Pà Thẻn không được tự do tìm hiểu và lựa chọn, quyết định việc hôn nhân mà do cha mẹ sắp đặt. Đã thành lệ tục, người trong cùng một họ, cùng chung một ông tổ, cùng huyết thống không được lấy nhau. Đôi lứa muốn kết duyên trăm năm phải được sự thuận lòng của cha mẹ và phải hợp tuổi. Người Pà Thẻn thường kén chọn những cô gái có đức tính chịu khó, chăm chỉ, biết làm nương rẫy, thành thạo công viêc nội trợ, lễ phép với ông bà, cha mẹ, họ hàng, làng xóm; cha mẹ cô gái phải là người phúc hậu, sinh được nhiều con. Những chàng trai khỏe mạnh, thành thạo công việc nương rẫy luôn được các cô gái để mắt đến.

Việc kết hôn thường là do sự chủ động của những gia đình có con trai, khi ưng ý thì nhờ người đánh tiếng. Đối với người Pà Thẻn, hôn lễ là một nghi lễ quan trọng trong một chu kỳ đời người. Trước đây, khi định dựng vợ, gả chồng cho con cái, người ta phải xem tuổi của đôi trẻ có hợp nhau không rồi mới tiến hành các nghi lễ dạm hỏi và các thủ tục đi hỏi. Thông thường phải trải qua 3 lần đi hỏi. Đi hỏi lần thứ nhất (Nhi co lênh tạ tư di): Trước khi đi hỏi gia đình phải tiến hành thủ tục xem chân gà bằng cách thịt một con gà của gia đình luộc chín, lấy đôi chân gà để xem. Theo đồng bào Pà Thẻn, nếu chân gà có 3 ngón giữa chụm lại là điềm tốt cho việc hôn nhân của con trai mình, sau đó tiến hành đi hỏi.

Gia đình nhờ một người đàn ông đức độ, nói năng lưu loát và một người trong nội tộc đi hỏi. Khi đi mang theo 2 chai rượu. Đến nhà gái, 2 người này sẽ trình bày lý do gia đình muốn ướm hỏi cô gái để xin về làm dâu. Lời hỏi như sau: “Chạ nhía vìa mo/ Mà tỏ bo pờ quá múm ờm thơ/ Cọ ờm mơ mốm nhìa mầy pơ va tớ lự nhưng/ Pự dừ mà đơ gùa cồng sàng/ Pờ dừ mà quẹ gờ quơ lềnh/ Ờ hứ tề lọng toong và quý mè/ Và quý mè chín tớ hoài/ Gá vình chí gáo vì kẹ/ Ga lềnh cọ và quý mẽ/ Chó à hụng pù phài quợ/ Sị à nhó pị pồ thế huỳnh/ Pò cù chà cùng pớ cú coọng/Pò cù chà lệnh pò pú roòng/Toa pịa dó hù pạ lềnh”.(Ý là hỏi xem gia đình có một cô con gái, nay đã đến tuổi đi lấy chồng, nhà tôi đã thấy ưng cái bụng, nay muốn xin về làm dâu).

Nhà gái nếu không ưng thuận thì sẽ trả lời là không đồng ý, còn nếu đồng ý thì mặc dù đã ưng thuận nhưng cũng sẽ đáp lại rằng: “Ho ta cạ hà dư tị quế mà chò”. Ý câu trả lời là: Trẻ con nhà tôi con bé không biết có đi làm dâu được không. Câu trả lời như vậy thì nhà trai sẽ hiểu là đã chấp thuận, người giúp đi hỏi về nói lại với gia đình.

Đi hỏi lần hai (Nhi tạ pú dìng): Tuy thuộc vào hoàn cảnh của từng gia đình, sau một thời gian nhất định lại tiếp tục đi hỏi lần thứ hai. Lần này gia đình vẫn nhờ 2 người đi hỏi lần thứ nhất giúp đi hỏi, khi đi cũng mang theo 2 chai rượu, đến nhà cô gái vẫn làm thủ tục như lần 1. Trong lần hỏi thứ hai này, nhà trai sẽ đặt vấn đề xem nhà gái “thách” cưới như thế nào. Trong truyền thống, người Pà Thẻn có tục lễ khi gả chồng cho con gái, nhà gái được quyền “thách” cưới, lễ vật thường là 30 đồng bạc trắng, 1 đùi lợn, 4 con gà thiến, ngoài những lễ vật này nhà gái sẽ thông báo số lượng anh em họ hàng để nhà trai biết và biếu mỗi người 1 rẻ sườn lợn. Nhà trai nhận lời yêu cầu của nhà gái về truyền đạt lại cho gia đình nhà trai.

Đi hỏi lần ba (Dìa pu): Lần đi hỏi thứ 3 vẫn do 2 người giúp đi hỏi lần 1 và 2 thực hiện. Đây là lần hỏi chính thức, khi đến nhà, gia đình nhà gái mời đoàn nhà trai ăn cơm cùng gia đình và trong bữa cơm nhà trai trao 2 chiếc vòng bạc có cuốn chỉ đỏ cho nhà gái. Thủ tục được thực hiện trước bàn thờ tổ tiên. Sau khi trao vòng, đại diện nhà trai nói với bố mẹ cô gái: “Tó pú cư cho theng soong/ Tó ơ cư sị theng lêng/ Tó pú sư xe theng so/ Tó ơ su chự thẹng lêng/ Tó pú họ lừ theng so/ Tó ơ se vài seng lêng/Tó pú choòng theng so/ Tó ơ cho chọ theng lêng/ Tó toong se lo di theng leng/ Giã nhi sụ xe theng so/ Theng tơ chính sò giá chính sò lê/ Theng tơ chính lềng an hề tờ tề pú dừ/ Làng hềng chì àn hung/ Pú dừ lá lang chi cheng gờ/ Dì téng cheng dơ nhị há chịnh/ Tà so cúng pừ huê dịnh/ Cà tớ sài hềng chớ nhì/ à tớ vẻ chóng chớ chi/ Nài dình nghé họ ghé dín thơ pú tợ thơ/ Nghé dính thộ là pu tớ, thộ hơ thơ dờ pa dờ chợ dờ cúng/ Sá nhé họ sị chứ cự cho mống sợ dáo nghe hồ bày chớ/ Dáo pái sị peng sợ sá sìng”. (Ý lời hỏi của nhà trai là: Nhà trai báo cáo tổ tiên nhà gái, nhà trai muốn trao vòng để xin con dâu, để từ nay hai gia đình chính thức làm thông gia, các con kết duyên với nhau, không được bỏ nhau).

Nhà gái nhận lấy vòng bạc rồi đặt lên bàn thờ để trình báo tổ tiên, chiếc vòng này cô dâu sẽ được đeo trong ngày cưới. Trong lần đi hỏi này, nhà trai sẽ trao số bạc trắng mà nhà gái yêu cầu cho nhà gái, các lễ vật khác thì ngày đi đón dâu mới trao.

Khi đã thực hiện xong 3 lần đi hỏi theo trình tự, nhà trai nhờ thầy xem ngày tốt để tổ chức cưới. Gia đình phải nhờ một người họ hàng mang 1 chai rượu, 1 bát gạo, 1 quả trứng đến nhà thầy cúng làm lễ và tính ngày. Thông thường thì ngày cưới phải không trùng vào ngày tuổi của bố mẹ cô gái và tuổi của cô gái. Sau khi đã xem được tuổi nhà trai lại nhờ người đến báo ngày cưới cho nhà gái biết để chuẩn bị đám cưới, khi đi mang theo một chai rượu.

Đến ngày tổ chức đám cưới, nhà trai mời thầy cúng đến thực hiện các nghi lễ cúng trong đám cưới. Thầy cúng vừa phải cúng, vừa phải làm nhiệm vụ hát đối đáp với nhà gái. Sau khi hoàn tất các thủ tục, đám cưới được tổ chức với sự chứng kiến của họ hàng, anh em, bạn bè, làng xóm.

Đoàn nhà trai đi đón dâu gồm 12 người, trong đó phải có: người hát (ấy sẹ), thầy cúng (pai hụng), người giúp việc cho thầy cúng (tò hụng), chú rể (pại vị sinh), phù rể (lia pọ), người gánh đồ (tà po), quan làng gốc (pua pọ).Đoàn nhà gái đi đưa dâu có người đại diện (pài nung),thầy cúng (pà ta sinh), cô dâu (pại nhi sinh),phù dâu (mà pọ),người gánh đồ (tà po).

Trước khi đi đón dâu, nhà trai làm lễ trình tổ tiên (Gờ pua cua nong de) để báo cho tổ tiên biết là hôm nay cưới vợ cho con trai. Cúng xong đoàn đón dâu lên đường đi đón dâu, chú rể che ô đen, mặc quần áo đen và cầm theo 2 khăn mặt đến nhà gái. Đi đầu đoàn đón dâu là quan làng, lần lượt theo sau nam giới đi trước, nữ đi sau.(Xem trong ảnh).

Khi gần đến nhà gái, người Pà Thẻn thực hiện tục lệ dừng lại ngang đường để ăn cơm, mỗi người phải ăn 1 miếng cơm, quan niệm như vậy sẽ đem lại may mắn, hạnh phúc cho đôi vợ chồng. Khi đến nhà, nhà gái cử đại diện ra đón đoàn nhà trai, đem lễ vật của nhà trai vào trong nhà. Lúc này nhà trai chưa được phép vào nhà mà phải ngồi thành 2 hàng ở ngoài sân, quay lưng vào nhà (xem trong ảnh). Sau đó nhà gái chuẩn bị một mâm lễ gồm 2 bát cơm, 2 đĩa thịt lợn, 2 đôi đũa, 14 chén rượu đặt trước cửa nhà để cúng trình báo thổ công. Trước khi cúng, nhà trai cử 6 người, nhà gái cử 8 người để đứng xung quanh mâm cúng và thầy cúng khấn cúng trình báo thổ công. Cúng xong, mỗi người sẽ ăn 1 miếng thịt và uống 1 chén rượu, sau đó đại diện nhà gái nhà trai mỗi người cầm 1 bát cơm tung từng nắm ra xung quanh với ý tượng trưng mời thổ công ăn,  sau đó đoàn nhà trai mới được vào nhà. Khi vào trong nhà, nam giới ngồi ở gian chính gần bàn thờ, nữ ngồi ở gian bên cạnh.

Đêm hôm đó thầy cúng làm lễ cúng để xin “cắt khẩu” của cô dâu về nhà chồng. Sáng hôm sau, đoàn đón đưa dâu về nhà trai. Đến nhà trai, thầy cúng làm lễ nhập tổ, sau đó căn dặn cô dâu chú rể: “Pạ vì sing kia nhúng nhùng peng hình cụ/ Tạ nhúng nhụng cừ hêng cùng/ Pứ nhúng dòp pừ chớ vìng/ Cạ tế cạ ngó dù dú hó hó/ Pự cợ tứ tạ pà và chựng nò chóng sơ chử/ Ừ dó ụ dó cơ pú nờng/ Tý lè tụ lô bứ nờ tạ phị ù pé dầng/ Pờ ừ từ dạm vầng dạ chứ nềng họ tạ phì ùng/ Ghề dạ dạ ghề lợi lợi/ Tờ mới ừ bi bới gà từ”.(Ý lời dặn đôi vợ chồng sau khi làm đám cưới phải sống hòa thuận, chung thủy, chịu khó giúp đỡ bố mẹ). Đêm hôm đó đoàn nhà gái ở lại cùng anh em, họ hàng, làng xóm của nhà trai ăn cơm, uống rượu chung vui với gia đình.

Theo tục lệ, cô dâu mới về nhà chồng thì buổi sáng phải dậy sớm đun nước, lấy nước cho bố mẹ chồng rửa mặt. Sau ngày cưới khoảng một tháng, cô dâu kiêng không ra khỏi nhà, quan niệm rằng như vậy sau này làm ăn sẽ vất vả, khó khăn.

Trong truyền thống, sau khi tổ chức đám cưới, gia đình nhà trai sẽ xem ngày tốt để cô dâu chú rể  về thăm bố mẹ vợ và làm lễ lại mặt. Khi đi có bố hoặc mẹ, người mối và cô dâu chú rể, lễ vật là 2 chai rượu và một đùi lợn. Sau khi thực hiện nghi lễ cúng tổ tiên, hai gia đình bàn bạc về tương lai của đôi vợ chồng trẻ. Ít lâu sau, cô dâu và chú rể tiếp tục thực hiện một nghi lễ về thăm bố mẹ vợ và biếu 2 chai rượu, một đùi lợn để tạ công ơn sinh thành, nuôi dưỡng.

Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, hiện nay một số tục lệ trong nghi lễ cưới hỏi của người Pà Thẻn như tục thách cưới bằng bạc trắng đã được loại bỏ, một số lễ thức cũng được rút gọn, giản tiện hơn, nhưng những nghi lễ đi hỏi, đưa, đón dâu... vẫn được đồng bào Pà Thẻn bảo tồn, tiếp thu những yếu tố văn minh thực hiện.

create

Việt Thanh / doingoai.tuyenquang.gov.vn